>

Quá trình hình thành và phát triển của Hyperrealism, dòng tranh mô phỏng ảnh chụp với độ phân giải cao
Thứ 7, 16/11/2019
2202

Hyperrealism là một thể loại hội họa và điêu khắc mô phỏng ảnh chụp với độ phân giải cao. Tương tự các trào lưu hội hoạ khác, sự hình thành và phát triển của Hyperrealism có liên quan mật thiết với một vài phong trào nghệ thuật đi trước.

Tương tự những trào lưu nghệ thuật khác, sự hình thành và phát triển của Hyperrealism (thể loại hội họa và điêu khắc mô phỏng ảnh chụp với độ phân giải cao) có liên quan mật thiết với một vài phong trào nghệ thuật đi trước. Cụ thể là Photorealism (loại hình nghệ thuật mô phỏng ảnh chụp) và Realism (chủ nghĩa Hiện thực).

 

Hyperrealism nổi lên cùng với sự xuất hiện của nhiếp ảnh. Mặc dù một vài họa sĩ Hiện thực cảm thấy lo lắng trước sự ra đời của loại hình nghệ thuật mới này, tại Mỹ, một bộ phận họa sĩ Photorrealism của thập niên 60 và 70 đã kết hợp nhiếp ảnh vào hội họa. Họ nắm bắt độ chính xác, chi tiết của ảnh chụp vào tác phẩm của mình. Đầu thập niên 2000, một vài họa sĩ Hyperrealism đã áp dụng những tiến bộ về độ phân giải của ảnh chụp như một bước đột phá, gây kinh ngạc đối với người yêu nghệ thuật trên toàn thế giới.

 

hyper-1

 

 

Sau đây là một vài trào lưu nghệ thuật có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của Hyperrealism.

 

 

Chủ nghĩa Hiện thực

 

Trào lưu hội họa Hiện thực bắt nguồn từ Pháp vào thập niên 50 của thế kỷ 19. Một bộ phận lớn họa sĩ đã từ chối chủ nghĩa Lãng Mạn đang thống trị lúc bấy giờ để hướng tới khắc họa hiện thực cuộc sống. Những tác phẩm Hiện thực tưởng chừng như tầm thường thực chất lại là một cuộc cách mạng lớn lúc bấy giờ. Bởi trước đó, họa sĩ thường chỉ khắc họa những chủ đề thần thoại, tôn giáo, hoặc chân dung giới quý tộc đương thời trong những bức họa xu nịnh.

 

Trái ngược với họa sĩ Lãng Mạn, một vài nhà tiên phong của chủ nghĩa Hiện thực bao gồm Gustave Courbet, Jean-François Millet, và Jean-Baptiste-Camille Corot lại tập trung khắc họa đời sống thường nhật, cuộc sống sinh hoạt của những người dân thường. Một trong những tác phẩm Hiện thực nổi tiếng nhất mang tên 'Des glaneuses' của danh họa Jean-François Millet mô tả ba người phụ nữ nông dân lượm lặt một cánh đồng lúa mì sau vụ thu hoạch. 'Des glaneuses' là một bức vẽ với quy mô lớn, mà trước đó chỉ được sử dụng cho những tác phẩm về tôn giáo, và được chiếu rọi vào một thứ ánh sáng ấm áp từ sự đồng cảm của người nghệ sĩ. Dưới tàn dư của cuộc Cách mạng Pháp, phong trào Hiện thực không được lòng tầng lớp thống trị, bởi vậy, đương thời, nó cũng không nhận được sự đón nhận rộng rãi từ công chúng.

 

Trào lưu Hiện thực đã sớm lan truyền tới các quốc gia phương Tây, và được đón nhận bởi đông đảo họa sĩ phương Tây, bao gồm 2 danh họa người Anh, Hubert von HerkomerLuke Fildes, những người đã thực hiện những tác phẩm phản ánh hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống với các gam màu tối, u ám.

 

hyper-2

 

"Des Glaneuses", Jean-François Millet. (Ảnh: Wikimedia Commons)

 

 

Vào năm 1839, với sự ra đời của nghệ thuật nhiếp ảnh tại Paris, công nghệ đã bắt đầu tác động tới chủ nghĩa Hiện thực. Trong khi một bộ phận họa sĩ đã cảm thấy bị đe dọa bởi sự phát triển của công nghệ, một số khác đã quyết định áp dụng nhiếp ảnh vào hội họa.

 

hyper-3

 

"The widower" (Người đàn ông góa vợ) by Luke Fildes. (Ảnh: Wikimedia Commons)

 

 

Photorealism

 

Photorealism là thể loại hội họa mô phỏng ảnh chụp, phản ứng lại phong trào Biểu hiện trừu tượng. Vào cuối thập niên 60 và 70, thuật ngữ Photorealism được sử dụng phổ biến với các tác phẩm của họa sĩ người Mỹ.

 

hyper-4

 

"John’s Diner with John’s Chevelle", John Baeder. (Ảnh: Flickr (CC BY-NC-SA 2.0))

 

 

Cùng với Hội họa Đại chúng, Photorealism ra đời cùng với sự phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh. Khoảng giữa thế kỷ 20, nhiếp ảnh phát triển mạnh mẽ, đe dọa tới hội họa truyền thống. Tuy vậy, thay vì cố gắng bới móc những khuyết điểm của nhiếp ảnh nói chung và hình ảnh thương mại nói riêng như các họa sĩ Đại chúng, họa sĩ Photorealism lại đón nhận nó một cách nồng nhiệt.

 

Thế hệ tiên phong của Photorealism bao gồm các họa sĩ người Mỹ như John Baeder, Ralph Goings, và Chuck Close. Tương tự các họa sĩ Hiện thực, họa sĩ Photorealism thường chọn những chủ đề quen thuộc như phong cảnh, chân dung, và tĩnh vật, tuy nhiên dưới một lăng kính hiện đại bằng cách sử dụng bối cảnh thành thị thay vì bối cảnh thôn quê quen thuộc. Audrey Flack, nữ họa sĩ Photorealism duy nhất đương thời, thường khắc họa sự ngắn ngủi của cuộc sống thông qua những hình ảnh buồn tẻ như thỏi son hoặc lọ nước hoa. Họa sĩ Photorealism cũng áp dụng những kỹ thuật trong nhiếp ảnh về độ sâu, cách đánh bóng, hay hình ảnh phản chiếu.

 

Dù vậy, Photorealism vẫn vướng phải sự phản đối dữ dội từ các nhà nghiên cứu hội họa, những người đã coi loại hình hội họa này là một trò lừa bịp, sao chép.

 

hyper-5

 

"Sân bay Sacramento", Ralph Goings. (Ảnh: Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0))

 

 

hyper-6

 

Cận cảnh tác phẩm "Mark", Chuck Close, ( 1978-79) (Ảnh: Emily Kim)

 

 

hyper-7

 

"Chanel", Audrey Flack (Ảnh: Kimvee)

 

 

Hyperrealism

 

Hyperrealism là một trào lưu hội họa và điêu khắc hiện đại xuất hiện vào đầu thập niên 70. Tên gọi Hyperrealism ra đời vào năm 1973, khi nhà môi giới nghệ thuật Belgian thực hiện chuỗi buổi triển lãm L’hyperréalisme, tại Brúc-xen, Bỉ. Đây là một chuỗi triển lãm trưng bày tác phẩm của các họa sĩ người Mỹ như Ralph Goings and Chuck Close. Có thể nói Hyperrealism là một bước tiến của Photorealism, được phổ biến rộng rãi vào những năm đầu thập niên 2000, cùng với sự phát triển của công nghệ. Ở giai đoạn này, nhờ có sự hỗ trợ của máy tính, hình ảnh kỹ thuật số, và các phần mềm chuyên dụng, họa sĩ Hyperrealism đã đạt được độ sắc nét cao của ảnh chụp.

 

hyper-8

 

Sergey Piskunov

 

 

Khác với họa sĩ Photorealism, những người chỉ thuần sao chép lại các tấm ảnh kỹ thuật số, họa sĩ Hyperrealism chỉ sử dụng các tấm ảnh như một nguồn tham chiếu để tạo nên một tác phẩm hoàn toàn mới, mô phỏng thực tế, đồng thời thêm vào những chi tiết chưa có trong tấm ảnh gốc. Kỹ thuật tạo khối, tạo bóng, và hiệu ứng ánh sáng được sử dụng hiệu quả, cho ra đời một tác phẩm đa chiều, hữu hình.

 

Với một kho tàng chủ đề vô cùng đa dạng, một vài tác giả đã đưa vào đó những cảm xúc cá nhân, những quan điểm về xã hội, văn hóa, hay thậm chí là chính trị. Một ví dụ tiêu biểu là tác phẩm điêu khắc mang tên Khoác lác (larger-than-life) được thực hiện bởi nghệ sĩ người Úc Ron Mueck. Qua việc khắc họa nhân vật trong trạng thái khỏa thân hoặc mất ý thức, người nghệ sĩ muốn truyền tải sự trần trụi trong tâm hồn và thể xác, từ đó gợi lên một sự băn khoăn, bứt rứt cho người thưởng thức.

 

hyper-9

 

"Larger-than-life", Ron Mueck (Ảnh: Othemone)

 

 

Một số gương mặt nổi bật khác của Hyperrealism phải kể đến là Tjalf Sparnaay, tác giả của những bức tranh mô phỏng đồ ăn được trưng bày trên toàn thế giới. Và họa sĩ người U-crai-na, Sergey Piskunov, bậc thầy của kỹ thuật tạo khối, nổi tiếng với những bức vẽ người phụ nữ trong hồ bơi. 

 

hyper-10

 

Tjalf Sparnaay bên cạnh tác phẩm "Foodscape," (2014) (Ảnh: Wikimedia Commons (CC BY-SA 4.0))

 

 

hyper-11

 

Sergey Piskunov

 

 

hyper-12

 

Sergey Piskunov

 

 

hyper-13

 

Sergey Piskunov

Để thực hiện chức năng này. Bạn vui lòng Đăng nhập nếu đã có tài khoản tại designs.vn

hoặc Đăng ký tài khoản miễn phí.

Bình luận trên Designs.vn

Tên của bạn Email của bạn
Lời bình của bạn
Mã hiển thị      Captcha
  • MM Interior
  • youtube
  • if-design-award
  • Tin tuyển dụng thiết kế
Đăng ký nhận bản tin

a product of 3dgroup © 2019 Designs.vnGlobal design news and ideas